Hiển thị các bài đăng có nhãn dao phat la gi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn dao phat la gi. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 8 tháng 6, 2012

Về Giáo lý của Phật Giáo Nguyên Thủy

imageVề giáo lý của Phật Giáo Nguyên Thủy, thật rất chất phác và đơn giản. Đức Phật không thảo luần vòng vo về hình nhi thượng, tất cả chỉ nhằm trình bày những kinh nghiệm về lý tính: Đức Phật dạy người ta con đường giải thoát thực tiễn.

Tóm Tắt Căn Bản Phật Giáo


imagePhật Giáo giải thích mục đích của đời sống, giải thích hiện tượng bất công và bất bình đẳng trên thế gian, và cung ứng một phương cách thực hành hay một lối sống để đưa đến hạnh phúc thật sự.
Hỏi: Phật Giáo là gì?

Đạo Phật Là Đạo Của Đại Chúng!

imageGiáo lý Đạo Phật không dành riêng cho người theo Phật, mà cho tất cả những ai có thể tri ngộ được dù là sớm hay muộn bởi vì khi Đức Phật thuyết giảng là cho tất cả mọi người đã có mặt trên thế gian. Những “Chân lý” Đức Phật vạch ra cho chúng sinh thấy rằng: Cuộc đời trong nhân thế là “Những khổ đau” tự nó đã hiện hữu trong cuộc sống; để rồi sau đó Đức Phật đi đến lý giải những nguyên nhân của khổ đau, và muốn thoát khỏi khổ đau mình sẽ phải chọn con đường hoàn thiện để thoát khỏi vòng khổ đau ấy. Những giai đoạn ấy là “cần có” và “điều kiện đủ” để thí sinh vượt qua ngưỡng cửa của kỳ thi sau cùng mà tiến đến Giác Ngộ! Đức Phật cũng chỉ rằng “không ai có thể cứu mình ra khỏi những nghiệp mình đã gieo, mà chỉ có mình tự nỗ lực cứu chính mình mà thôi!”; vì những nghiệp mình gieo đã biến thành dây oan trái vô hình trói buộc mình với những ai mà mình đã ân oán với họ, dù ân oán ấy thật là nhỏ nhoi! Con người hoàn thiện và giải nghiệp bằng sự tu tập của chính mình!

Minh Sát Tuệ

image

Ðạo Phật chân chính không là những đền đài, tượng Phật, cúng dường hoặc lễ tụng. Trong khi những thứ này đều có giá trị, chúng lại không đáp ứng câu hỏi: Ðạo Phật chân chính là gì?
Nguyên tác: Frank Tullius, "What is Buddhism?"

Đạo pháp của Đức Phật có phải là tôn giáo?


imageThế nhưng “Phật giáo” dưới một vài khía cạnh nào đó lại rất giống như một “tôn giáo” vì “Phật giáo” cũng chủ trương sự sùng kính, nghi lễ, kinh kệ, có chùa chiền, tượng ảnh và “Phật giáo” cũng có “đức tin”…

Một Đặc Trưng Rất Riêng Của Phật Giáo


imageĐiểm chung của các tôn giáo Thần khải là đức tin nơi một Đấng sáng thế, trong khi Kinh Pháp Cú (Dhammapada) một trong những kinh phổ biến nhất của Phật giáo, lại mở đầu bằng câu: ” tâm có trước các sự vật, tâm thống quản chúng sáng tạo ra chúng”. Điều đó đủ cho thấy cốt lõi và đặc trưng rất riêng của đạo Phật là con đường dẫn vào bên trong để gặp lại Bản Tâm của chính mình.

Đạo Phật: Phải Là Đạo Giác Ngộ


Xuyên suốt 25 thế kỷ qua, Đạo Phật có mặt trên trái đất này nói chung,Việt Nam nói riêng.Trải qua bao biến cố thăng trầm, đến hôm nay,thế kỷ 21 thế kỷ của sự phát triển văn minh,khoa học và tâm linh .

Khởi nguyên Phật Giáo


imagePhật giáo thành hình sau khi đức Phật ra đời hành đạo. Phật giáo, là sự ghép lại từ chữ Phật. Buddha và chữ Pháp. Dharrna tức là giáo pháp.
Khởi nguyên Phật Giáo từ đâu ?

Đạo Phật là gì ?


imageĐạo Phật không thấy sự mâu thuẩn trong việc chủ trương cả sự phát triển khoa học ngoại tại và tinh thần nội tại. Cả hai đều đúng. Nhưng mỗi thứ cũng có thể tích cực hay tiêu cực. Điều ấy tùy thuộc trên thái độ tinh thần – không có những thứ thế ấy như chắc chắn, hiện hữu một cách ngoại tại hoàn toàn tích cực hay chắc chắn, hiện hữu ngoại tại hoàn toàn tiêu cực.

Đạo Phật là gì ?


imageĐạo Phật không phải là một hệ thống của đức tin và thờ phượng, và cũng không đòi hỏi sự tin tưởng mù quáng, mà cần đặt niềm tin dựa trên trí hiểu biết về sự thực. Người Phật tử đặt niềm tin nơi Ðức Phật, bởi vì Ngài là người đã khám phá ra con đường giải thoát. Cũng giống như người bệnh tin dùng toa thuốc mà thầy thuốc đã cho để uống được lành bệnh.

Đạo Phật : là đạo gì ? (Bằng 3 thứ tiếng: Anh - Pháp - Việt)


imageĐạo Phật ra đời ở Ấn độ vào thế kỷ thứ sáu trước Chúa giáng sinh. Theo cái nhìn chung trong truyền thống, đạo Phật được xem như một triết lý, một tinh thần tín ngưỡng, một tôn giáo, hay một cách sống đơn giản. Sự tu tập thực hành của nó, tùy theo nguyện vọng, sự chờ đợi và lòng thúc đẩy của từng cá nhân.

Nguồn gốc của đạo Phật


imageNói đến nguồn gốc của đạo Phật thì chắc rằng tất cả Tăng Ni đều biết đức Phật là một Thái tử ở Ấn Ðộ xuất gia đi tu, bỏ cả sự nghiệp thế gian để tìm đạo giải thoát. Khi đã đạt được đạo quả rồi Ngài truyền giáo cho đến tận ngày nay gần như cả thế giới đều biết.

Sứ mệnh của Đạo Phật


imageĐạo Phật không hề có những biểu hiện thần quyền hoặc chủ trương những hình thức mê tín dị đoan. Đức Phật là Bậc Đạo Sư tức vị Thầy dẫn đường, không phải là thần linh ban phước giáng họa. Chúng sanh có quyền chọn lựa đường hướng cho mình, hoặc đi theo Đức Phật thì sẽ được an lạc giải thoát như Ngài, hoặc quay lưng theo hướng khác thì cũng có quyền tạo nghiệp và tự thọ nhận quả báo tương ứng.
I. Ý NGHĨA
Hiểu theo sự tướng, Đạo Phật là con đường, là phương pháp tu hành đưa con người đến mục đích giác ngộ và giải thoát. Giác ngộ đối nghĩa với vô minh, giải thoát đối nghĩa với trói buộc. Chúng sanh vô minh, chấp thân tâm là thật, chấp các pháp là thật nên dính mắc với trần cảnh; từ đó bị phiền não trói buộc, tạo nghiệp và quanh quẩn trong sáu đường sinh tử. Người tu khi giác ngộ thân tâm cảnh đều duyên hợp hư huyễn, các Ngài vẫn sống vẫn làm nhiều việc lợi ích cho đời, nhưng hoàn toàn tự do tự tại. Như thế, nhờ giác ngộ nên giải thoát - giải thoát khỏi phiền não và cuối cùng, khỏi luân hồi. Đạo Phật được ví như ngọn đuốc soi đường cho những kẻ còn lạc lối trong rừng rậm vô minh, hoặc như chiếc thuyền đưa người qua biển khổ, đến bến bờ an lạc.
Hiểu theo lý tánh, Đạo Phật là tánh giác sẵn đủ ở mỗi chúng sanh. Tánh giác là thể chẳng sanh chẳng diệt ở ngay thân ngũ uẩn sanh diệt. Chư Phật đã nhận ra và hằng sống với tánh giác chân thường, chúng sanh cũng có tánh giác nhưng bị phiền não tham sân si che lấp, như vàng trong quặng, như sóng chìm nổi trên mặt biển. Thể tĩnh lặng của biển luôn hiện hữu trong tướng biến động của sóng. Do có gió nên mặt biển nổi sóng, và khi gió lặng, sóng lại trở về với biển cả mênh mông. Cũng vậy, chúng sanh đang trong thể tánh tịch chiếu của biển chân như, do gió nghiệp thổi mà sinh ra thân năm uẩn, theo đó tiếp tục tạo nghiệp rồi thọ thân mãi mãi không cùng. Hơn thế, chúng sanh lại quên thể tánh hằng tri mà nhận lầm tâm huyễn hóa là mình, như người nhận sóng mà quên nước. Muốn trở về nước, phải ngay nơi sóng mà nhận; muốn trở về tánh giác chân thường, phải ngay từ thân tâm vô thường. Tâm thức mê mờ của phàm phu rất gần với tâm Bồ-đề của các Bậc Giác Ngộ, chỉ cách nhau ở một niệm quên hay nhớ mà thôi.
Chúng sanh quên tánh giác vì mãi chạy theo thức tình phân biệt, theo vọng tưởng điên đảo. Ví như mặt hồ có sóng lớn, ánh trăng không hiện rõ trong nước; nhưng khi gió lặng, mặt nước yên tĩnh, bóng trăng sẽ hiện sáng ngời. Chúng ta tu là làm lặng yên gió niệm phân biệt. Niệm Phật đến nhất tâm bất loạn, thiền tập đến trạng thái tịch lặng và thường rõ biết, người tu nhận ra Niết bàn tự tánh ở ngay đương xứ - bây giờ  ở đây.
Như ta thấy, Đạo Phật không hề có những biểu hiện thần quyền hoặc chủ trương những hình thức mê tín dị đoan. Đức Phật là Bậc Đạo Sư tức vị Thầy dẫn đường, không phải là thần linh ban phước giáng họa. Chúng sanh có quyền chọn lựa đường hướng cho mình, hoặc đi theo Đức Phật thì sẽ được an lạc giải thoát như Ngài, hoặc quay lưng theo hướng khác thì cũng có quyền tạo nghiệp và tự thọ nhận quả báo tương ứng. Chính Đạo Phật đã trao cho tất cả chúng sanh quyền tự do và quyền bình đẳng tuyệt đối khi vị Giáo chủ nhiều lần tuyên bố:“Chúng sanh là chủ nhân của nghiệp, cũng là chủ thọ nhận nghiệp báo”  “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành”.
II. LÝ THUYẾT
Giáo lý nhà Phật gồm tam tạng kinh điển (Kinh-Luật-Luận), là cả một gia tài đồ sộ. Kinh là những lời dạy của Đức Phật thuyết giảng hoặc do các đệ tử của Ngài tuyên thuyết và được Ngài ấn chứng. Luật là những cấm giới do Đức Phật chế ra để ngăn dứt điều ác, phát triển nghiệp lành. Thời kỳ Đức Phật còn tại thế chưa có chữ viết chỉ truyền khẩu, nên dần dần không thể không có những điều sai lạc. Đến nay một số giáo điều do người sau đặt ra nhưng lại ngụy tạo lời Phật dạy; hoặc ngược lại, có người chủ trương sai lầm cho rằng kinh điển Đại thừa không phải do Đức Phật thuyết giảng. Điều này làm nhiều Phật tử hoang mang không biết tin vào đâu, thậm chí rơi vào tà kiến mê tín. Vì thế, nhà Phật có một thước đo để phân định pháp nào là đúng chánh pháp. Thước đo ấy gọi là Pháp ấn.
“Ấn” nghĩa đen là con dấu, dùng chứng thực uy quyền của vua quan. “Pháp ấn” là con dấu của Đức Phật, dùng để chứng thực đâu là giáo lý từ kim khẩu Đức Phật thuyết ra. Với trí tuệ vô sư xuất thế, Đức Phật đã khám phá ra chân lý tuyệt đối chi phối cả vũ trụ vạn hữu cùng những phương pháp đoạn tận phiền não, thoát ly sinh tử. Trong suốt cuộc đời hoằng hóa độ sanh, Ngài đều chỉ dạy cho đệ tử theo tinh thần này. Và do vậy, nếu có một lý thuyết nào không mang được ý nghĩa như thế, thì đó không phải là lời dạy của Đức Phật.
Pháp ấn gồm ba phân loại:
- Tứ pháp ấn.
- Tam pháp ấn.
- Nhất pháp ấn.
* Tứ pháp ấn
1. Vô thường: Tất cả mọi loài vật, từ hữu tình đến vô tình, từ lớn lao như toàn thể vũ trụ đến tí hon như những tế bào đều thay đổi trong từng sát-na. Con người vô thường theo tiến trình sinh lão bệnh tử, các pháp có sinh trụ dị diệt, vũ trụ có thành trụ hoại không.
2. Khổ: Vì vô thường nên không một chúng sinh nào thoát khỏi đau khổ, trong đó nỗi khổ luân hồi là đệ nhất. Cụ thể hơn, Đức Phật dạy rõ về tám loại khổ: Sanh - Già - Bệnh - Chết - Cầu mong không toại nguyện - Thương yêu phải xa lìa - Oán thù mà gặp gỡ - Thân năm ấm lẫy lừng.
3. Không: Các pháp đều do nhân duyên tập hợp mà hình thành, không có pháp nào tự nó hiện hữu. Vì do duyên hợp nên sự hiện hữu ấy chỉ là giả tạm, thật sự bản chất của các pháp là không. “Không” là thể tánh cả vạn pháp, còn hiện tượng là giả có.
4. Vô ngã: Vì các pháp do duyên hợp nên không đồng nhất và không có một chủ thể độc lập. Các pháp cũng vô thường nên không phải cố định. Không có chủ tể, không đồng nhất và không cố định nên các pháp đều vô ngã.
* Tam pháp ấn
1. Chư hành vô thường: Đã nói ở trên.
2. Chư pháp vô ngã: Vô thường và Vô ngã là hai pháp ấn thuộc Tục đế, là chân lý chi phối mọi sự vật hiện tượng và vạn hữu trong cả ba cõi.
3. Niết bàn tịch tịnh: Pháp ấn thứ ba thuộc Chân đế, là chân lý xuất thế gian. Hai đặc tính của Niết bàn là thanh tịnh và thường tri, tức tĩnh lặng mà hằng rõ biết. Niết bàn không phải là một cõi giới bên ngoài, có thể đạt đến khi nhắm mắt lìa đời, mà là tự tánh bổn tịch bổn tri của chính mình. Khi nhận ra và thẩm thấu chân lý vô thường vô ngã của muôn pháp, người tu thoát ly mọi khổ não, xoay lại soi sáng chính mình, trở về Niết bàn tịch tịnh tự tâm.
* Nhất pháp ấn
Khi nhận thấy trình độ tâm linh của chư đệ tử đã có thể lãnh hội chân lý tối thượng, Đức Phật mới thuyết giảng về Nhất tâm chân như, thuộc Trung đạo Đệ nhất nghĩa đế, chỉ rõ con người chân thật thường hằng ở mọi chúng sanh. Con người chân thật ấy không có hình dáng nên không hề sanh diệt, không có tên nên được đặt rất nhiều tên: Chân như, Phật tánh, Pháp thân, Bản lai diện mục… Trở về hằng sống với con người chân thật là mục đích cuối cùng của người tu, và cũng là bản hoài chư Phật khi thị hiện nơi đời.
Như ta đã thấy, không có lời dạy nào của Đức Phật đề cập đến việc giải trừ sao hạn, coi hướng, coi quẻ, cùng những hình thức cúng tế thuộc tín ngưỡng dân gian. Mặt khác, giáo lý nhà Phật cũng không phải là một nền Triết học. Triết học nằm trong phạm vi của Hữu sư trí, trí tuệ có được nhờ học hỏi thu lượm từ bên ngoài, từ người khác. Trái lại, Phật pháp được tuyên thuyết bằng Vô sư trí của một Bậc Giác ngộ, tức trí tuệ phát sinh trong thiền định, khi tâm hoàn toàn vắng bặt mọi vọng tưởng phân biệt đảo điên. Đức Phật không nói những gì Ngài suy đoán, mà chỉ nói những gì Ngài đã thấy rõ bằng Tuệ nhãn, Pháp nhãn và Phật nhãn. Chính vì thế giáo lý nhà Phật là sự thật muôn đời không thay đổi, là chân lý siêu việt cả không gian và thời gian.

III. THỰC HÀNH
Lý thuyết như đôi mắt sáng, thực hành như đôi chân khỏe. Muốn đến nơi đến chốn, con người phải có mắt sáng để thấy đường đi và chân khỏe để tiến bước. Mắt và chân là hai điều kiện chủ yếu, tiên quyết và không thể thiếu cho một kẻ lữ hành.
Người Phật tử là một hành giả tâm linh, muốn trở về quê hương muôn thuở thì cần áp dụng giáo lý vào thực hành. Thực hành là chuyển hóa ba nghiệp thân miệng ý, chuyển hóa tự tâm. Tùy căn cơ, trình độ và sở thích, mỗi người tự chọn cho mình một pháp môn thích hợp. Đức Phật là vị Đại lương y, có đến tám vạn bốn ngàn pháp môn đối trị tám vạn bốn ngàn trần lao phiền não. Chúng ta như những bệnh nhân, đã được chẩn đoán cho toa, phải uống thuốc đúng theo lời dặn trong toa mới mong khỏi bệnh phiền não.
Một chai trước chứa thuốc độc, nếu muốn sử dụng nó chứa mật ong, đầu tiên ta phải đổ hết thuốc độc ra, súc rửa nhiều lần cho thật sạch. Tâm trí ta cũng thế, ba độc tham sân si đã huân tập bao nhiêu đời kiếp. Nếu muốn chứa vị cam lồ giải thoát, trước hết phải tẩy sạch phiền não vô minh. Tịnh tu ba nghiệp, dần dần dừng nghiệp và sạch nghiệp. Không còn nghiệp tức động cơ sinh tử đã ngừng, vòng xích luân hồi bị chặt đứt.
Phương pháp tu hành theo Đạo Phật được phân chia thành Ngũ thừa, Tam thừa và Nhất thừa Phật giáo.
* Ngũ thừa Phật giáo
1. Nhân thừa: Người Phật tử quy y tam bảo, giữ gìn năm giới. Đời sau, người ấy trở lại thân người với mọi điều tốt đẹp.
2. Thiên thừa: Tu mười điều thiện, lánh xa mười nghiệp ác, thác sinh về cõi trời Dục giới.
3. Thinh văn thừa: Tu Tứ Diệu Đế, chứng quả vị Thinh văn (Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán)
4. Duyên giác thừa: Tu Thập nhị nhân duyên, quán lý Duyên sinh, giác ngộ bản chất duyên hợp của vũ trụ vạn hữu. Chứng quả vị Duyên giác.
5. Bồ tát thừa: Tu lục độ vạn hạnh. Hành giả thực hành tự độ độ tha, đạt đến cứu cánh Nhất thừa Phật đạo.
* Tam thừa Phật giáo
Chỉ kể Thinh văn, Duyên giác và Bồ tát thừa.
* Nhất thừa Phật giáo
Kinh Pháp Hoa có một ví dụ về “Hội tam quy nhất”, tức quy Tam thừa về Nhất thừa. Những người con mãi vui chơi trong nhà lửa, không biết từng giây phút bị lửa đe dọa tính mạng. Người cha muốn các con mau ra khỏi nhà lửa, nên lập bày phương tiện, hứa cho các con ba loại xe. Nếu ai ra khỏi nhà, sẽ được sử dụng các loại xe ấy, mặc tình rong chơi thỏa thích. Khi các con đã an toàn, người cha mới nói thật rằng, không có ba loại xe mà chỉ có duy nhất là xe trâu trắng. Ba loại xe ví như Tam thừa (Thinh văn, Duyên giác, Bồ tát), xe trâu trắng là Phật thừa. Các quả vị của Tam thừa chỉ là Hóa thành, để chúng đệ tử có cơ sở tiến đạo và không cảm thấy ngao ngán vì đường tu xa xôi diệu vợi. Thật sự chỉ có quả vị duy nhất là Phật quả, là Bảo sở, là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, cũng là Niết bàn tự tâm ở ngay tại đây  bây giờ!
IV. SỨ MỆNH TRUYỀN BÁ
Sau khi thành đạo dưới cội Tất-bát-la, Đức Bổn Sư định nhập Niết bàn, vì những gì Ngài thấy được chứng được đều khó tin khó hiểu; nếu người nghe sinh tâm nghi ngờ phỉ báng, sẽ vô tình tạo trọng tội. Nhưng do chư Thiên ba phen khẩn thiết thỉnh chuyển pháp luân, nên Đức Phật đành dùng phương tiện, tùy duyên giáo hóa. Sứ mệnh truyền bá của Đức Phật lúc còn tại thế được chia làm năm thời kỳ. Đưa dần trình độ của chư vị đệ tử từ thấp lên cao. Không kể 21 ngày đầu tiên thuyết kinh Hoa Nghiêm cho các hàng Bồ tát, 4 thời kỳ hoằng pháp của Đức Phật gồm có(*):
1. Phật thuyết kinh A-Hàm: Trong 12 năm, chỉ dạy mọi phương tiên tự tu tự độ.
2. Kinh Phương Đẳng: Giai đoạn chuyển tiếp từ Tiểu thừa lên Đại thừa, vừa tự độ vừa độ tha. Phật thuyết trong 8 năm.
3. Kinh Bát-Nhã: Thời kỳ này dài nhất, 22 năm, Đức Phật dạy về Tánh Không của vũ trụ vạn loại, về Thật Tướng Vô Tướng của tất cả các pháp.
4. Kinh Pháp Hoa, Niết bàn: Trong 8 năm cuối đời, Đức Phật thấy căn cơ của chư đệ tử đã thuần thục, có thể đảm đương việc lớn là “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh” nên tỏ bày lý nghĩa rốt ráo, từ Tam thừa về Nhất thừa, từ Hóa thành đưa về Bảo sở. Để gieo niềm tin vững chắc cho hội chúng, Ngài đã thọ ký cho các đệ tử, không kể người trí hay ngu, nam hay nữ, hiền thiện hay xấu ác, thậm chí đến kẻ tạo tội ngũ nghịch như Đề-Bà-Đạt-Đa hoặc súc sinh nhỏ tuổi như Long nữ, cũng đều có khả năng thành Phật. Đúng như lời Bồ tát Thường Bất Khinh: “Tôi không dám khinh các người, vì các người đều sẽ thành Phật!”.
Chúng ta ngày nay, có nhân duyên lớn gặp được chánh pháp, học hiểu và tu hành có kết quả, nên tích cực truyền bá giáo lý của Đức Phật để người khác cũng được lợi lạc, để Phật pháp mãi mãi trường tồn. Tùy khả năng tu học và hoàn cảnh mình đang sống, chúng ta có thể bằng khẩu giáo hay thân giáo góp phần làm tốt đời đẹp đạo. Tuy nhiên, việc truyền bá cần theo tinh thần khế lý khế cơ hay bất biến tùy duyên. Khế lý là phù hợp với chân lý bất biến của nhân sinh vũ trụ, khế cơ là phù hợp với căn cơ và thời đại mà tùy nghi sử dụng phương tiện, để ai cũng có thể thấm nhuần và tu tiến. Người truyền bá Phật pháp lúc nào cũng linh động nhưng không bao giờ nói sai chân lý. Nhưng ngược lại, nếu nói đúng với chân lý mà không thích hợp với thính chúng thì cũng khó thuyết phục, khó đưa chánh pháp thấm sâu vào lòng người, khó giúp đương sự tu hành có kết quả. Ví dụ, người Đông phương thường sống với nội tâm, nhịp sống chậm rãi nên thường ưa thích những pháp môn thâm sâu, có căn bản hoặc tuần tự từ thấp lên cao. Người Tây phương lại khác, quen với nhịp điệu hối hả, mong có kết quả nhanh chóng nên thích hợp với các phương pháp làm giảm căng thẳng thần kinh hoặc giúp an lạc ngay trong hiện đời. Những người sơ cơ chưa hiểu sâu giáo lý thường ưa nghe về tội phước, nhân quả, nghiệp báo… Người có trình độ nghiên cứu cao hơn lại rất tâm đắc về những đề tài Vô thường, Vô ngã, Duyên sinh… Đặc biệt, đối với những Phật tử vừa uyên thâm giáo lý vừa có công phu tu hành chuyên sâu, đây là mảnh đất tâm trù phú để gieo chủng tử vô lậu, là những người có thể gánh vác trọng trách tự lợi lợi tha, tự giác giác tha.
*           *
*
Thuyền bè hay ngọn đuốc sáng là cứu tinh cho những người sắp chết đuối hoặc đang bị lạc vào rừng rậm thâm u. Nhưng nếu lên thuyền mà không chèo, có đuốc soi đường mà không đi, thì biết bao giờ thoát nạn? Giáo lý nhà Phật thậm thâm vi diệu, muôn kiếp khó tìm, chúng ta được nghe và hiểu đúng Phật pháp là điều hy hữu. Đã có duyên sâu dày, chúng ta càng nên nỗ lực tu hành, tùy duyên theo hoàn cảnh riêng. Bao nhiêu sóng gió trở ngại trong đời, ta kham nhẫn chịu đựng rồi yên ổn vượt qua, vì ta đã có hướng đi, có mục đích cao cả là chuyển hóa bản thân, xây dựng gia đình hạnh phúc và góp sức cải thiện xã hội. Bằng những việc cụ thể làm lợi mình lợi người như thế, chung ta đã biết đền ơn chư Phật một cách thiết thực và đầy đủ ý nghĩa.
Trích từ tập sách “Sứ mệnh của Đạo Phật” - NXB Tổng hợp, Tp.HCM - 2010

Tìm hiểu, vào đạo Phật


imageTùy theo nghiệp nặng hay nghiệp nhẹ mà chúng sinh Luân hồi trong sáu đường (Lục Đạo Luân Hồi): Nặng thì bị chìm dưới đáy sông (Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc sinh); nhẹ hơn thì ở lưng chừng sông (Người, A-Tu-La); và có Phước đức thì nổi trên mặt nước (Trời).

Thông điệp cho toàn thế giới


imageAi cũng biết rằng khoa học và kỹ thuật đã đóng góp đáng kể vào việc giảm thiểu đau thương nhân loại và đã nâng cao đời sống chúng ta. Tuy nhiên vì tâm con người, cái đứng sau mọi thành quả vĩ đại của khoa học, đã thật quên mình một cách đáng thương, những khuôn mẫu cảm nhận và động cơ thúc đẩy con người vẫn theo cùng những con đường đen tối như ở các thế kỷ trước -- những nguyên nhân tham, sân và si -- chỉ khác trước chăng là nay những nguyên nhân này được trang bị với các dụng cụ mạnh mẽ hơn.
Sơ lược tiểu sử Tỳ Kheo Bodhi:

Về Tôn giáo nầy


imageTôn Giáo, tôi sẽ đề cập trong bài luận này, nó có một hệ thống giáo dục hợp với khoa học, đã được khai sang ra cách đây trên 25 thế kỷ do một vị Thầy hoàn toàn giác ngộ và đầy đủ long từ bi bác ái.
NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMÀSAMBUDDHASSA
Tôi đem hết lòng thành kính làm lễ Đức Thế Tôn, Ứng cúng, Chánh Biến Tri.

Đạo Phật


imageĐạo Phật là con đường do Đức Phật truyền đạt : "Con đường ấy đã được thực nghiệm, thực chứng". Ngài chỉ dạy những gì Ngài đã thực nghiệm, cần thiết cho đời sống thoát khổ. Do đó, nội dung của đạo Phật không ở nghi lễ, triết học hay huyền thoại, mà chính là ở trong lối sống, cách ứng xử đối với bản thân, giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên vũ trụ.

Những cái nhìn khác nhau về Phật Giáo


imageXã hội đang đứng trước nhiều tệ nạn, Phật pháp thì suy vi. Khắp nơi nổi lên nhiều tà thuyết, dị đoan. Cho nên, việc hoằng dương chánh pháp, cứu vãn tình thế xã hội, là trách nhiệm của mỗi người Phật tử, mà đặc biệt là những người xuất gia.

Một Cái Nhìn...! (Hay: Đạo Phật Là Một Tôn Giáo)


imageTừ lâu có nhiều người cho rằng Đạo Phật chỉ là một trong những triết thuyết chứ không là Tôn giáo; điều ấy làm cho những người học triết hay thần học cũng thường bị lầm lẫn không ít. Thực ra, Đạo Phật đã quá đi sâu sát với đời sống con người; và những lý thuyết của nó cũng là cho con người, để đưa con người từ một con người bình thường trở nên người giác ngộ, thoát khỏi cõi luân hồi, tục lụy trong ba cõi chứ không là chỉ riêng thế gian nầy, vượt quá xa các bậc thần thánh khác.

Tôn giáo này là gì?

image
Mỗi người hẳn phải có một tôn giáo riêng biệt và tôn giáo đó phù hợp với tâm trí của mình. Một người phạm các giới điều của tôn giáo sẽ trở thành người nguy hiểm cho xã hội. Điều không có nghi ngờ rằng các nhà khoa học, tâm lý có thể mở rộng phạm vi trí thức, nhưng họ không thể nói với chúng ta mục đích cuộc sống, những điều mà một tôn giáo đúng đắn có thể nói được.

Người theo dõi

Slider(BỂ KHỔ)

LIÊN KẾT

BẤM ĐÂY ĐỂ LIÊN KẾT>>>

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | cheap international calls
Blogger Gadgets