
Nhưng
cho đến hiện nay, với sự tiến bộ của khoa học, lý thuyết hay đúng hơn là giáo
pháp của Đạo Phật được chứng minh với nhiều chính xác khiến cho những nhà khoa
học hay trí thức không thể ngờ được: Một (bát nước) có vô số vi trùng trong đó;
(tam thiên đại thiên thế giới) vũ trụ bao la với nhiều thiên hà, trong mỗi
thiên hà có vô số thái dương hệ; có những UFO và người ngoài hành tinh (chúng
sinh ở thế giới khác); có những hiện tượng hay nhiều câu chuyện kể về sự tái
sinh (khoa học huyền bí); những nhà ngoại cảm chứng minh chúng sinh trong thế
giới vô hình; Duy thức học khiến cho những nhà tâm lý hoặc phân tâm học ngạc
nhiên không ít, đó là chưa nói đến sự giải thích luật nhân quả qua hai thức
Mạt-Na-Thức và A-Lại-Da-Thức; tất nhiên ngoài tâm lý học ta có thể tìm được
trong Duy thức về phần Đạo đức học mà ta không thể ngờ được.
Hôm nay,
chúng tôi muốn trình bày cùng Quý vị vài vấn đề và dẫn chứng một số câu trong
các Kinh điển để chứng minh Đạo Phật không những là một triết lý nhân sinh mà
cũng là một tôn giáo không khác. Tôn giáo nầy rất thực tiễn không dựa vào những
câu chuyện hoang đường, thần thoại mà cũng chẳng đưa tín đồ vào chỗ “ngu muội”
để tin theo. Mà tôn giáo nầy cũng không phải “nhốt vào chuồng” hay “lấy dây
trói buộc” tín đồ với giáo hội hay tôn giáo của mình để dành phần trên thế
gian. Xin mời Quý vị:
“Này
A Nan, bởi vô minh vọng động nên biến hiện ra có hư không, thế giới và chúng
sinh. Trong thân chúng sinh vì có vọng tưởng lẫn lộn, nên nó vọng động leo
chuyền bên trong (như vượn, như ngựa). Khi các giác quan mở ra thì nó rong ruổi
theo trần cảnh bên ngoài (như vượn sút xiềng, ngựa tong chuồng). Rồi các ông
chấp cái tướng vọng tưởng lăng xăng bên trong đó cho là tâm tánh của mình. Một
phen chấp nó làm tâm, thì không sao khỏi mê lầm cho rằng ‘tâm ở trong thân’.
Chứ
đâu biết rằng: Thân nầy tâm nầy cho đến núi sông, thế giới và hư không đều là
vật trong chơn tâm hiện ra cả”.
Đây là
đoạn mà tôi đã trích ra từ trang 51 của khóa VI-VII bộ Phật học Phổ thông tức
là khóa giảng về Kinh Lăng Nghiêm để dẫn chứng cái ý niệm vũ trụ của Đức Phật
hay là “Vũ trụ quan” trong đạo Phật.
Khi xưa,
lúc còn học trong nhà trường, có lần tôi được nghe một vị thầy khi nói về các
tôn giáo của một số đạo ở Đông phương thì ông kết luận: “Các tôn giáo Đông
phương thực ra không phải là tôn giáo mà chỉ là các Triết lý về nhân sinh vì
tôn giáo nó phải có tính chất giải quyết vấn đề con người: Được sanh ra từ đâu
và chết sẽ đi về đâu, nhất là tính cứu rỗi”. Điều ấy đối với tôi lúc bấy giờ nó
chẳng có gì là quan trọng cả, bởi vì tôi đâu có chú ý đến nó và tôi cũng không
hề nghĩ đến sau nầy tôi lại nhớ đến nó. Có lẽ do nơi cái “duyên”, nên sau cơn
bệnh tôi lại có cái nhìn về đạo, rồi duyên ấy thôi thúc tôi viết.
Có lần
tôi đã viết: “Đạo Phật được Phật Thích Ca suy nghiệm qua Thiền định, khám phá
tự trong Tâm thức của Ngài, Ngài rao giảng cũng là cho Tâm thức của bạn, của
tôi và của chúng sinh. Mà Tâm thức là thường còn, là hằng hữu dù nó không có
bằng hình dáng trên cuộc đời nầy. Cho nên đạo Phật mãi luôn là đạo của Tâm
thức, hầu đưa tâm thức trở về với giác ngộ, với Chân như. Đạo Phật vẫn luôn tồn
tại với Tâm thức dù trên thế gian nầy có còn hay không còn có đạo Phật”.
Một lần
Ngài A Nan bạch với Đức Phật:
“Bạch
Thế Tôn! Bồ Đề, Niết Bàn, Chơn Như, Pháp Tánh, Yêm-Ma-La-Thức, Không Như Lai
Tạng và Đại Viên Cảnh Trí, bảy danh từ tuy khác, chớ cũng đồng một quả Phật
thanh tịnh thường còn không hoại”. (PHPT,
khoá VI-VII trang 162).
Như vậy,
Niết Bàn trong đạo Phật tùy theo góc nhìn, pháp tu mà sử dụng từng danh từ cho
thích hợp, sự giác ngộ rốt ráo (Bồ Đề), cõi Thanh Tịnh (Niết Bàn), Cõi chứa cái
thường còn, cái thật sự có, cái Chơn tâm (Chơn Như), Cái tính chất của mọi vật,
chúng sinh, các pháp (Pháp Tánh), Yêm-Ma-La-Thức, hay cái Tạng của các đấng Như
Lai (Không Như Lai Tạng), hoặc là cảnh trí viên tròn quả mãn rốt ráo của các
Đức Phật (Đại Viên Cảnh Trí).
A Nan đã nói rõ: “bảy
danh từ tuy khác, chớ cũng đồng một quả Phật thanh tịnh thường còn không hoại”.
Đó cũng là tính chất của Chơn tâm, là căn bản của Bồ đề, Niết bàn. Còn trái
lại, căn bản của sanh tử, luân hồi là vọng tâm. Con người vốn từ trong Chơn
tâm, trong thể tánh Chơn như thường trụ, nhưng do vì vô minh nên bị nhiều món
điên đảo làm mê mờ mà phân biết vọng thấy và hiện ra các cảm giác “thấy nghe
hay biết” (“tùy tâm của chúng sinh phân biệt như thế nào, thì nó ứng hiện
như thế ấy”) (PHPT, khoá VI-VII trang 98). Từ phân biệt vọng thấy nầy mà
phát sanh ra nghiệp (‘Tùy theo tâm của chúng sinh tạo nghiệp và phân biệt
như thế nào, thì có ứng hiện ra như thế nấy”) (PHPT, khóa VI-VII trang
94), rồi lại theo nghiệp mà chúng sinh chịu khổ, sanh tử luân hồi.
Đó là
những điều mà Đức Phật nói về sự bắt đầu luân hồi của con người và chúng sinh:
Từ nơi Chơn tâm chỉ do sự mê mờ không biết (vô minh) mà thích có được cái “thấy
nghe hay biết” (vọng tâm) để phân biệt (vô minh, hành, thức), và do tâm phân
biệt mà muốn có danh sắc. Thế thì từ đâu để có danh sắc? Đức Phật đã nói:
“Các
ông nên biết: đất nước gió lửa, hư không, cái thấy và thức tâm gọi chung là bảy
đại, tánh của nó đều là chơn tâm viên dung khắp giáp tất cả, vốn không sanh
diệt. Các ông vì mê muội nên không biết”.(PHPT, khóa VI-VII trang 110).
Như vậy,
phát xuất từ “tùy tâm của
chúng sinh phân biệt như thế nào, thì ứng hiện như thế ấy” mà đất nước gió lửa đã tạo
thành “thân tứ đại” của chúng sinh. Để rồi từ đó có lục nhập, xúc, thọ, ái,
thủ, hữu, sanh, Đau khổ.
“Từ
một thể chơn tâm không khác, vì vọng niệm phân biệt, có năng sở, bỉ thử sai
khác, nên hiện ra có hư không và thế giới. Nhơn có hư không thế giới nên mới có
chúng sinh. Đã có thế giới và chúng sinh lăng nhăng đối đãi nhau, nên khởi lên
vô số vọng tưởng phân biệt: tốt xấu, phải chẳng... Vì thế mà sanh ra đủ các
phiền não trần lao, nhiễm ô. Cái có hình tướng và sanh diệt là thế giới, cái
không hình tướng và yên tịnh là hư không; khác với hư không, thế giới là chúng
sinh vậy”. (Trang 121).
“Tóm
lại, vì ở trong tâm chúng sinh, các vọng tưởng xen nhau phát sanh, nên ứng hiện
ra ngoài thế giới có các cảnh vật. Bởi nhân duyên nầy mà thế giới nối nhau sanh
mãi không dứt”.
(PHPT, khóa VI-VII trang 124).
Đức Phật
đã chỉ cho chúng ta thấy rõ ràng con người, chúng sinh và vạn vật xưa kia vốn
cùng chung một bản thể là từ chơn tâm, nhưng vì mê mờ không biết (vô minh) mà
sinh ra có tâm phân biệt (vọng tâm) để từ đó tâm phân biệt nầy hướng dẫn
chúng sinh đi vào cảnh luân hồi, vào trần thế có thân xác cấu tạo bằng tứ đại
lấy phân biệt tốt xấu, thiện ác, thương ghét, ham thích, chán chê, đẹp xấu,
muốn lấy, chối bỏ... làm mục đích. Nhất là với tính ham muốn (dục) và thích
(ái) để rồi bằng mọi cách chiếm đoạt cho được, nên sinh ra dùng các phương tiện
sát (giết), đạo (cướp đoạt) dâm hầu thỏa mãn các ham thích, ấy là ba nghiệp
“nhơn”, từ nhơn nầy sinh ra “quả” tương tục nối tiếp nhau không dứt. Thế là
chúng sinh vào cõi sanh tử luân hồi do nơi nghiệp quả mình đã gieo.
Những
điều nầy chứng minh cho tôi biết được rằng đạo Phật đã đề cập:
“Con
người được bắt nguồn từ đâu”?
Con
người theo Đạo Phật không phải do nơi một đấng vô hình nào tạo ra như trong
những câu chuyện thần thoại đã kể; trong các chuyện hoang đường ấy: Các vị thần
hay chúa tể khi tạo con người ra rồi thì muốn sử dụng con người như thế nào thì
sử dụng theo cả hai chiều thiện ác; thương thì cất nhắc lên làm lãnh tụ, lãnh
đạo được cao sang quyền quý; ghét thì rủa sã, gieo tai họa xuống con người bằng
thiên tai, lụt ngập, tai nạn... và nhất là vị thần ấy lại bắt con người phải
phụng thờ mình và chỉ một mình mình mà thôi, dù mình vừa thiện vừa ác... Còn
Đức Phật chỉ cho chúng ta biết con người cũng như vạn vật, chúng sinh đều từ
trong một bản thể không sanh không diệt rất là thanh tịnh, thường còn viên dung
bình đẳng với nhau khắp cả pháp giới, mười phương; bản tánh vốn là từ cõi Phật
(Niết bàn, Bồ đề, Chơn như, Pháp tánh...) nhưng vì do u mê mà ra đi để khoát
lên mình các “lớp áo”, các “vai trò” chơi lặn hụp triền miên trong cõi ô trược
đầy phiền não. Do nơi cùng xuất xứ ấy mà Đức Phật đã nói: “Tất cả chúng sinh đều cùng có
Phật tánh”, hoặc xa hơn nữa “Chúng
sanh vốn đã thành Phật từ xưa tới giờ” (Kinh
Viên giác, PHPT khóa VIII trang 56).
Lúc
trước, tôi đã vô tình lấy câu chuyện con mối bay ra khỏi tổ, rụng cánh cắn đít
dẫn nhau về tổ để được làm mối chúa. Và, sau khi đọc qua các phần Kinh Lăng
Nghiêm, Viên Giác tôi mới thấy cái ví dụ ấy có lẽ là gần đúng hơn hết với tinh
thần đạo Phật. Nếu ta lấy tổ mối giống như cõi thanh tịnh Niết Bàn, cõi Chơn
Như thường hằng, thì mối chúa to lớn, nằm trong tổ giống như các chư Phật thành
đạo đã trở về được trong tổ, còn các mối cánh lớp lớp bay ra ngoài do sự u mê
giống như là chúng sinh u mê chấp vào mình bằng đôi cánh, càng bay xa thì sự
trở về càng gian nan. Khi vào cuộc đời sanh tử luân hồi với các giao động đã
làm cho mối rụng cánh đi, rồi cứ cắn đít dẫn nhau tìm về tổ. Mối chúa, mối cánh
vẫn bình đẳng giống nhau về tính chất, cũng đều từ tổ mà ra; cho nên Đức Phật
đã coi chúng sinh ra đi từ cõi Phật nên “chúng sinh vốn đã thành Phật từ xưa
tới giờ” và cả Phật lẫn chúng sinh đều có tính Phật như nhau, nên Phật đã thành
Phật thì chúng sinh cũng có khả năng thành Phật (Ta là Phật đã thành, chúng
sinh là Phật sẽ thành), Đức Phật cũng phân biệt rõ cho chúng ta qua ví dụ chúng
sinh giống như quặng vàng, sự tu hành là cách thức “tôi luyện” để gạn lọc lại
thành vàng y, thành Phật; khi đã là vàng y, là Phật thì không bao giờ trở lại
làm quặng hay chúng sinh nữa.
Phần
trên đây tôi đã chứng minh và dẫn chứng với Quý vị sự thành hình vũ trụ, thế
giới, hư không và chúng sinh lẫn “nhân” tạo ra luân hồi qua các đoạn Kinh mà
Phật đã giảng giải để ta có thể hiểu được con người được sinh ra từ đâu.
Còn
con người chết sẽ về đâu?
Có lẽ
vấn đề nầy là vấn đề mà hầu hết con người chúng ta đều thắc mắc: Khi chết chúng
ta sẽ đi về đâu? Với khoa học hay người Duy vật, hoặc người chủ trương Đoạn
diệt khi chết thân xác ta sẽ hết, và tinh thần cũng không còn. Chết là hết!
Nhưng với những hiện tượng ma, hiện tượng báo mộng cũng khó giải thích, vì vậy
mà tôn giáo hãy luôn còn là nơi nương tựa cho tinh thần, linh hồn của con
người. Nếu nói rằng chết được Đấng Tối cao xét xử để đưa vào Thiên đàng hay Địa
ngục thì như vậy chẳng quá ra là một sự bất công lắm ư? Thế nào để được vào
Thiên đàng và tiêu chuẩn nào để đưa vào địa ngục. Và nếu người vào địa ngục
biết hối cải thì linh hồn vẫn muôn đời ở địa ngục mãi hay sao? Và nếu con người
được tạo ra và sống một lần để vào được Thiên đàng thì thế gian nầy làm gì có
người sinh ra để tiếp nối thế giới nầy cho đến ngày nay. Có những vấn đề thật
là vô lý!
Trong
đạo Phật thì không như vậy. Không có một Đấng Tối cao nào xét xử, cứu giúp hay
ban họa phước đến cho tâm thức người chết mà chỉ có người chết quyết định cho
mình con đường mình sẽ đi mà thôi. Những điều kiện quyết định đó là nghiệp và
nguyện lực. Nghiệp là tất cả những gì mình làm dù thiện hay ác trong suốt cuộc
đời được lưu giữ trong cái túi gọi là “A Lại-Da-Thức” hay “Thức Thứ Tám” hay Tàng-thức
(mà thế gian gọi là linh hồn) là nơi chứa mọi hạt giống “chủng tử” mình đã gặt,
đã gieo (nhân). A-lại-da-thức đó vẫn trường tồn, chỉ bị phá vỡ và biến thể
thành Đại Viên Cảnh Trí khi chúng sanh ấy đã thành đạo, thoát khỏi luân hồi;
khi con người (chúng sinh) chết, nó rời cái thân xác đang bất động, sẽ tan rã
để đi chọn một cái thân tứ đại khác đang thành hình. Ấy là sự tái sanh và từ
một cái xác nầy để chuyển sang một cái xác khác là chuyển kiếp. Cái xác đó là
gì trong kiếp kế tiếp? Có sáu con đường để đi tùy theo nghiệp ác hoặc nghiệp
thiện trong kiếp, hay các kiếp vừa qua của mình nhiều hay ít. Ở đây có một vấn
đề khác mà chúng ta cũng cần lưu ý về các hạt giống chủng tử hay nhân mà chúng
ta đã gieo, đã gặt và đã bỏ vào túi A-lại-da-thức. Có loại hạt sẽ nẩy nở liền
trong kiếp hiện tại đó là quả hiện tại; có loại hạt sẽ lú mầm trong kiếp sau
hoặc vài kiếp sau; có loại nhân sẽ có quả trong thời gian rất dài về sau. Chính
vì các hạt giống ấy cùng với nguyện lực của mình nó sẽ quyết định con đường nào
mà “linh hồn” sẽ đến. Nguyện lực là gì? Là ý mình muốn, là ước nguyện một cách
mãnh liệt, nhất là trong lúc sắp chết, sắp lâm chung: Mình muốn theo con cái,
hoặc theo trả thù kẻ nào, hoặc muốn một cách tha thiết cái gì đó mà mình chưa
thỏa mãn trong kiếp vừa qua...
Sáu con
đường hay lục đạo của luân hồi là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, A-tu-la, người
và trời. Nếu nghiệp của ta nhiều sân hận thì ta sẽ đi về địa ngục; tham lam thì
sẽ đi về ngạ quỷ (quỷ đói); nhiều si mê thì sẽ chọn con đường súc sanh; nhiều
phước báu thì sanh về cõi trời; nhiều giận hờn nóng nảy thì về cõi A-tu-la;
hoặc trở lại làm người. Còn quyến luyến, hận thù quá nặng thì chắc phải lênh
đênh, vất vưỡng chưa chịu tìm con đường để đi.
Sự luân
hồi ấy được thể hiện xảy ra trong ba cõi (tam giới) là cõi Dục giới: có thân
xác, có ham muốn dục, lạc của thân xác; cõi sắc giới: có thân xác; và cõi trời
vô sắc giới: không có thân xác.
Cõi trời
vô sắc giới nầy khác với cõi của ma quỷ. Ma quỷ cũng là vô sắc giới, nhưng đó
chỉ là những linh hồn lang thang, chết tức tưởi, oan ức, họ còn lưu luyến cái
thân xác của họ, nhưng thân xác ấy đã không còn. Họ không tìm thân xác khác để
đầu thai, chuyển kiếp, mà họ cứ mãi vất vưỡng như thế, thế gian gọi họ là
“những cô hồn, các đảng”, họ cứ tới lui phá phách, hoặc thấy ai thích thì nhập
vào, hoặc ai hạp thì hiện ra hù nhát, cho nên họ cần đến sự giúp đỡ của các chư
Tăng nhiều đức độ để cầu nguyện, tụng niệm, chú giải hầu giúp họ được siêu
thoát.
Còn đối
với những người: Nhân ác kiếp nầy không tạo, nhân xấu những kiếp xa xưa đã hết,
đã “nhân tròn quả mãn” thì họ sẽ là A-la-hán, Bồ tát hay Phật tùy theo công đức
mà có quả vị. Họ thoát ra được ngoài tam giới, ung dung tự tại ở Niết bàn, Tâm
thức không còn chướng ngại (vô ngại) mà có thể biến khắp pháp giới, nhập chung
với tất cả, viên dung trong mười phương: Khi lớn thì có thể lớn cả mười phương,
khi nhỏ thì nhỏ như hạt bụi vi trần hoặc đầu sợi lông như trong Kinh Viên giác
Đức Phật đã thuyết:
“Thí
như trăm ngàn ngọn đèn, đồng đốt trong một căn nhà, ánh sáng của mọi ngọn đèn
tuy đều chiếu khắp cả nhà, nhưng không có lộn lạo hay lấn diệt lẫn nhau”. (PHPT, Khóa VIII trang 52).
Hoặc
trong Kinh Lăng Nghiêm, Đức Phật đã nói:
“Còn
Ta (Phật) thì trái với vọng trần, hiệp với chơn tâm thường trụ bất sanh bất
diệt, biến khắp cả pháp giới. Cho nên ta mới được tự tại vô ngại: Ở trong một
hiện ra vô lượng, vô lượng hiệp làm một, trong nhỏ hiện ra lớn, trong lớn hiện
ra nhỏ; không rời nơi đạo tràng mà hiện khắp cả mười phương thế giới. Thân ta
bao trùm mười phương hư không vô tận. Trên đầu một mãy lông hiện ra các cõi
nước, ngồi trong hạt bụi, mà chuyển đại pháp luân. Vì ta diệt hết vọng trần,
trở lại với bản tâm thanh tịnh trong suốt, nên mới được như vậy”. (PHPT, khoá VI-VII, trang
132-133).
Thế
còn phương pháp cứu độ thì sao?
Đức Phật
không giành độc quyền cứu độ các loài, mà Ngài đã chỉ một cách cặn kẽ phương
cách tự cứu độ mình và có khả năng cứu độ người khác. Hơn 45 năm Ngài lặn lội
bằng chân trần từ nơi nầy đến nơi khác, sống cuộc đời bình dị mà rao giảng,
giải thích để cho mọi người hiểu và thực hành con đường tự giải thoát mình khỏi
sự khổ đau, luân hồi. Tùy theo căn cơ của từng hạng chúng sanh mà Ngài nói các
phương tiện khác nhau.
Sau 49
ngày Thiền định dưới cội Bồ đề, Đức Phật đã tìm ra chân lý bằng Trí Huệ (Trí
Huệ ấy ai cũng có). Sau đó Ngài bắt đầu giảng về giáo pháp của Ngài. Đời của
chúng sinh hay là của con người là một chuỗi dài đau khổ, Ngài đã phân tích sự
khổ ấy qua phần Khổ Đế để tìm đến cái nguyên nhân (Thập nhị nhân duyên) trong
phần Tập Đế, rồi đưa ra cách giải quyết chấm dứt nguyên nhân sự khổ ở phần Diệt
Đế (tận diệt Ái Dục, từ bỏ luyến ái với thế giới bên ngoài, thực hiện Bát Chánh
Đạo), và cuối cùng để đạt được Đạo Đế thì thực hiện Lục Độ Ba La Mật (Bố thí-
Trì giới- Nhẫn nhục- Tinh tấn- Thiền định- Trí Huệ).
Với giáo
pháp ấy, Ngài tùy theo căn cơ của chúng sanh mà nói, vì vậy sau nầy đệ tử của
Ngài cũng tùy theo căn cơ của mình mà chọn cách tu hành. Đó là lý do có nhiều
hệ phái trong đạo Phật, nhưng tất cả đều là Phật pháp. Trong Kinh Kim Cang:
“Ông
Tu Bồ Đề bạch Phật: “Phật pháp đã như thế, tại sao lại có các quả Thánh hiền
cao thấp khác nhau?” Phật dạy: “Vì trình độ chúng sanh có sai khác, nên có các
quả Thánh hiền sai khác, chứ không phải Phật pháp có sai khác” (PHPT, khóa XII trang 58).
Ngài còn
sợ khi Ngài nói giáo pháp và đã trở thành hệ thống giáo pháp khiến đệ tử của
Ngài cùng chúng sanh không chú ý đến “Con đường giải thoát” mà lại lẩn quẩn
nghiên cứu những gì mà Ngài đã nói, thế nên trong Kinh Lăng Nghiêm Ngài đã nhắc
nhở:
“Các
ông nên biết: Ta cũng như người dùng ngón tay chỉ mặt trăng, các ngươi phải
nhơn ngón tay mà xem mặt trăng. Nếu chấp ngón tay cho là mặt trăng, thì chẳng
những không thấy được mặt trăng mà cũng không biết luôn ngón tay. Vì cho ngón
tay là mặt trăng, thì không những không biết ngón tay là gì, mà cũng không biết
thế nào là tối và sáng. Vì mê chấp ngón tay là mặt trăng, thì tối và sáng làm
sao rõ được”. (PHPT, khóa VI-VII trang 53).
Và trong
Kinh Viên giác:
“Nầy
Thiện nam! Tất cả kinh giáo của Như Lai đều như ngón tay để chỉ mặt trăng Viên
giác (chơn lý). Vậy các ông phải biết: Đây là ngón tay kinh giáo chớ không phải
mặt trăng Viên giác. Nếu các ông chỉ cố chấp ngón tay, thì không bao giờ thấy
được mặt trăng. Những người biết nhơn ngón tay kinh giáo nầy, mà nhận được mặt
trăng Viên giác, thì gọi là Bồ tát lên Thánh địa, tùy thuận tánh Viên giác” (PHPT, khóa VIII
trang111).
Cuối
cùng, Ngài còn nhắc nhở không nên vướng mắc ở một cái gì dù đó là “chánh” hay
“không chánh”:
“Phật
dạy: “Nếu các ông còn chấp các tướng, hoặc chấp ‘tướng chánh pháp’ hay chấp
‘tướng phi chánh pháp’ thì cũng đều bị dính mắc nơi bốn tướng: ngã, nhơn, chúng
sanh và thọ giả. Bởi thế nên không được chấp ‘tướng chánh pháp’ hay ‘chấp tướng
phi chánh pháp”.
Cũng
vì lẽ đó, nên Như Lai thường dạy: “Các thầy Tỳ Kheo phải biết: Giáo pháp của ta
cũng như chiếc đò, đưa người qua sông, các ông không nên trụ chấp nơi giáo
pháp, ‘chánh pháp’ còn không nên trụ chấp huống chi là ‘phi pháp”. (PHPT khoá XII trang 53).
Do từ
trong chứng nghiệm của Trí Tuệ (Trí Huệ), Đức Phật đã khám phá được Chân lý,
tìm được nơi mà mình, con người chúng sanh, vạn vật đã khởi nguồn; Và muốn trở
về nơi ấy để tìm lại sự an vui thanh tịnh, không còn khổ đau, thì Ngài đã xây
dựng lại con đường mà Ngài đã tìm ra, đồng thời còn chỉ rõ ràng cái cách đến sao
cho được an toàn không bị sai trái, lệch lạc (xem Kinh Lăng Nghiêm). Quả thật
Ngài là một Đạo Sư đầy lòng nhân ái, đức độ độ cho người, giúp cho người tự cứu
rỗi mình, và còn cứu rỗi cho người khác mà không phải tự xưng hay đại vọng ngữ
qua đoạn sau:
“Tu
Bồ Đề! Các vị Bồ Tát phải độ tất cả chúng sinh (như loài trứng, loài sanh con,
loài sanh chỗ ẩm thấp, loài hóa sanh, loài có sắc, loài không sắc, loài có
tưởng, loài không tưởng, loài chẳng phải có tưởng, loài chẳng phải không tưởng
v..v...) đều được nhập Niết Bàn. Bồ Tát tuy độ vô lượng vô số chúng sanh như
vậy, nhưng không thấy có một chúng sanh nào được độ. Tại sao vậy? Nếu Bồ Tát
còn thấy có mình độ và chúng sanh được độ tức là Bồ Tát còn chấp bốn tướng
(tướng ngã, tướng nhơn, tướng chúng sanh và tướng thọ giả) thì không phải là Bồ
Tát”. (PHPT,
khóa XII trang 33)
Thế thì
bạn thấy có Đạo giáo nào hơn ?!..!
Nguyên
Thảo.
Le Quoc Trinh 14/04/2010 09:11:52
Kính gửi Đại Đức Thích Nhật Từ,
Trang Nhà Đạo Phật Ngày Nay,
Hôm nay nhờ lời giới thiệu của TuanVietNam tôi đã vào Trang Nhà ĐaoPhaTNgayNay đọc được một số bài viết của Thầy về chủ đề "Đạo Phật có phải là một tôn giáo không ?". Tôi xin phép được góp vài ba ý kiến với Đại Đức.
Trước hết tôi xin tự giới thiệu là Lê Quốc Trinh, Việt kiều cư ngụ tạiCanada hơn 40
năm. Tôi có duyên với Đạo Phật vì quy y từ hồi nhỏ, già đình thuần thành Phật
tử, bác tôi là cư sĩ Phật học Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha, tôi đã từng tham gia
xuống đường đấu tranh thời Pháp nạn (1963), tôi từng làm thầy cò (corrector)
sửa bản thảo kinh sách Nhà Phật trước khi in (mẹ tôi mở nhà in ấn tống kinh
Phật). Tôi theo dõi nghiên cứu triết lý Phật Pháp hơn 30 năm nay tại Canada , qua
lăng kính khoa học kỹ thuật.
Tôi xin khẳng định rõ những điều căn bản mà tôi rút tỉa từ những hiểu biết về Đạo Phật như sau:
1)- Trước hết Đạo Phật tuyệt đối không bao giờ là một tôn giáo khi được Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni sáng lập cách đây 2500 năm. Đức Thế Tôn không bao giờ chủ trương tôn thờ, tôn vinh và tôn sùng cá nhân. Bản thân Ngài không bao giờ vỗ ngực tự xưng là giáo chủ, Ngài không bao giờ ép buộc chúng sinh phải bỏ niềm tin (tôn giáo) của mình để đi theo con đương Trung Đạo của Ngài vạch ra. Ngài tuyên bố rõ ràng: "Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành", và "Chúng sinh nên tự thắp đuốc mà đi, Ta chỉ là người dẫn đường mà thôi";
2)- Đạo Phật là đạo dựa trên căn bản dùng trí tuệ theo phương hướng từ bi hỷ sả để GIÁC NGỘ, tự giải thoát. Do đó không thể đánh đồng Đạo Phật với các tôn giáo khác. Vì dựa trên trí tuệ để tìm hiểu Sự Thật, phá tan bức màn Vô Minh, nên Đạo Phật mang tính siêu việt theo tinh thần khoa học, nói rằng Đạo Phật đi trước khoa học cũng không sai. Bảo rằng đó là một triết lý sống, luôn đi sát với thực tại và cuộc sống, cũng rất chính xác;
3)- Đức Thế tôn đã hy sinh cả cuộc đời một con người sống thực, Ngài biết ràng con người thời đó (2600 năm trước) chưa đủ tri thức để hiểu thấu Phật pháp do Ngài giảng dạy, nhưng Ngài vẫn kiên trì lê gót khắp nước Ấn Độ để truyền bá Đạo Phật. Vì thời đó ánh sáng khoa học chưa rọi tới nhân loại, cho nên những lời Ngài giảng cô đọng trên những luận đề căn bản có vẻ khó hiểu và khô khan, nên chúng sinh không hiểu và vô tình bỏ quên hay giảng giải mơ hồ, sai lạc khiến cho mọi người hiểu lầm Đạo Phật, đưa Đạo Phật trở lại con đương mê tín, dị đoan;
4)- Ngày nay, nhờ những tiến bộ khoa học kỹ thuật mà nhân loại có thể giao lưu trao đổi tự do trên Internet, giáo lý Nhà Phật được truyền bá sâu rộng khắp thế giới. Đây là cơ hội tốt đẹp nhất để hoằng dương Phật Pháp, dùng kiến thức khoa học kỹ thuật để giải mã những luận đề căn bản khó hiểu như:
- Thuyết Nhân-Quả, thuyết Nhân-Duyên, trùng trùng duyên khởi;
- Thuyết Luân Hồi;
- Ý nghĩa của Vô Thường;
- Ý nghĩa về Vô Ngã: Ngã là gì ? Vô Ngã là gì ?
- Bốn chân lý Tứ Diệu Đế: Khổ là gì ?
- Bát Chánh Đạo;
- Thập Nhị Nhân Duyên;
- Bát Nhã tâm kinh: ý nghĩa Sắc Sắc Không Không, ý nghĩa Niết Bàn. Khoa học hiện đại đã giải mã được hết những nguyên lý phức tạp từ 20 năm nay;
- Duy Thức Học.
5)- Phải tẩy trừ hết sách những ngộ nhận về Đạo Phật, phải hiểu tất cả những phân hóa trong hàng ngũ Đạo Phật từ khi Đức Thế Tôn nhập Niết Bàn. Tất cả các tông phái gây chia rẽ Đạo Phật đều có ý hướng đi ngược chiều với Đạo Phật chính thống. Rất nhiều người bị đưa vào con đường mê tín, dị đoan, tin tưởng thần thánh, cầu siêu cần an, xin xâm, hoá vàng (như Tịnh Độ tông). Hoặc nhiều người lầm tưởng Đạo Phật chỉ cốt đi tìm niềm an lạc trong Tâm (như Thiền tông), hoặc say mê bùa chú kinh kệ (như Mật tông);
Kính thưa Đại Đức Thích Nhật Từ,
Tôi chỉ có bao nhiêu nguyện vọng đó, rất mong sẽ được góp sức tham gia vào công cuộc hoằng dương Phật Pháp, đưa ý nghĩa căn bản Đạo Phật chính thống trở lại thế gian ngõ hầu phụng sự nhân loại, giảm bớt đau khổ và kiến tạo hòa bình vĩnh cửu.
Kinh chào Đại Đức,
LêQuốc Trinh , Canada
Trang Nhà Đạo Phật Ngày Nay,
Hôm nay nhờ lời giới thiệu của TuanVietNam tôi đã vào Trang Nhà ĐaoPhaTNgayNay đọc được một số bài viết của Thầy về chủ đề "Đạo Phật có phải là một tôn giáo không ?". Tôi xin phép được góp vài ba ý kiến với Đại Đức.
Trước hết tôi xin tự giới thiệu là Lê Quốc Trinh, Việt kiều cư ngụ tại
Tôi xin khẳng định rõ những điều căn bản mà tôi rút tỉa từ những hiểu biết về Đạo Phật như sau:
1)- Trước hết Đạo Phật tuyệt đối không bao giờ là một tôn giáo khi được Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni sáng lập cách đây 2500 năm. Đức Thế Tôn không bao giờ chủ trương tôn thờ, tôn vinh và tôn sùng cá nhân. Bản thân Ngài không bao giờ vỗ ngực tự xưng là giáo chủ, Ngài không bao giờ ép buộc chúng sinh phải bỏ niềm tin (tôn giáo) của mình để đi theo con đương Trung Đạo của Ngài vạch ra. Ngài tuyên bố rõ ràng: "Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành", và "Chúng sinh nên tự thắp đuốc mà đi, Ta chỉ là người dẫn đường mà thôi";
2)- Đạo Phật là đạo dựa trên căn bản dùng trí tuệ theo phương hướng từ bi hỷ sả để GIÁC NGỘ, tự giải thoát. Do đó không thể đánh đồng Đạo Phật với các tôn giáo khác. Vì dựa trên trí tuệ để tìm hiểu Sự Thật, phá tan bức màn Vô Minh, nên Đạo Phật mang tính siêu việt theo tinh thần khoa học, nói rằng Đạo Phật đi trước khoa học cũng không sai. Bảo rằng đó là một triết lý sống, luôn đi sát với thực tại và cuộc sống, cũng rất chính xác;
3)- Đức Thế tôn đã hy sinh cả cuộc đời một con người sống thực, Ngài biết ràng con người thời đó (2600 năm trước) chưa đủ tri thức để hiểu thấu Phật pháp do Ngài giảng dạy, nhưng Ngài vẫn kiên trì lê gót khắp nước Ấn Độ để truyền bá Đạo Phật. Vì thời đó ánh sáng khoa học chưa rọi tới nhân loại, cho nên những lời Ngài giảng cô đọng trên những luận đề căn bản có vẻ khó hiểu và khô khan, nên chúng sinh không hiểu và vô tình bỏ quên hay giảng giải mơ hồ, sai lạc khiến cho mọi người hiểu lầm Đạo Phật, đưa Đạo Phật trở lại con đương mê tín, dị đoan;
4)- Ngày nay, nhờ những tiến bộ khoa học kỹ thuật mà nhân loại có thể giao lưu trao đổi tự do trên Internet, giáo lý Nhà Phật được truyền bá sâu rộng khắp thế giới. Đây là cơ hội tốt đẹp nhất để hoằng dương Phật Pháp, dùng kiến thức khoa học kỹ thuật để giải mã những luận đề căn bản khó hiểu như:
- Thuyết Nhân-Quả, thuyết Nhân-Duyên, trùng trùng duyên khởi;
- Thuyết Luân Hồi;
- Ý nghĩa của Vô Thường;
- Ý nghĩa về Vô Ngã: Ngã là gì ? Vô Ngã là gì ?
- Bốn chân lý Tứ Diệu Đế: Khổ là gì ?
- Bát Chánh Đạo;
- Thập Nhị Nhân Duyên;
- Bát Nhã tâm kinh: ý nghĩa Sắc Sắc Không Không, ý nghĩa Niết Bàn. Khoa học hiện đại đã giải mã được hết những nguyên lý phức tạp từ 20 năm nay;
- Duy Thức Học.
5)- Phải tẩy trừ hết sách những ngộ nhận về Đạo Phật, phải hiểu tất cả những phân hóa trong hàng ngũ Đạo Phật từ khi Đức Thế Tôn nhập Niết Bàn. Tất cả các tông phái gây chia rẽ Đạo Phật đều có ý hướng đi ngược chiều với Đạo Phật chính thống. Rất nhiều người bị đưa vào con đường mê tín, dị đoan, tin tưởng thần thánh, cầu siêu cần an, xin xâm, hoá vàng (như Tịnh Độ tông). Hoặc nhiều người lầm tưởng Đạo Phật chỉ cốt đi tìm niềm an lạc trong Tâm (như Thiền tông), hoặc say mê bùa chú kinh kệ (như Mật tông);
Kính thưa Đại Đức Thích Nhật Từ,
Tôi chỉ có bao nhiêu nguyện vọng đó, rất mong sẽ được góp sức tham gia vào công cuộc hoằng dương Phật Pháp, đưa ý nghĩa căn bản Đạo Phật chính thống trở lại thế gian ngõ hầu phụng sự nhân loại, giảm bớt đau khổ và kiến tạo hòa bình vĩnh cửu.
Kinh chào Đại Đức,
Lê
0 nhận xét:
Đăng nhận xét